Hệ thống giám sát tổ máy Nhà máy Thuỷ điện Ialy

 Nâng công suất là nâng hiệu quả hoạt động

 
(Kỹ sư NGUYỄN VĂN THÚ – Phó giám đốc Nhà máy Thuỷ điện IALY)


 
         Từ tháng 5 năm 2005 đến nay, Nhà máy thuỷ điện Yaly đã sản suất được 15 tỷ 150 triệu kWh điện. Nhìn chung, trong quá trình vận hành, tình trạng kỹ thuật của các thiết bị chính: tua bin, máy phát điện, máy cắt, máy biến áp, cáp dầu … của Nhà máy luôn làm việc tương đối ổn định, các thông số kỹ thuật đều nằm trong phạm vi tiêu chuẩn và cách xa giới hạn cho phép của nhà thiết kế, chế tạo.
 
        Dự án nâng công suất tổ máy được tiến hành đầu đủ, thận trọng và chính xác.
 
       Kết quả nghiên cứu cho thấy kết cấu sức bền cơ khí, độ rung, độ đảo trục của tổ máy, nhiệt độ thanh dẫn stator máy phát điện, nhiệt độ của máy cắt, máy biến áp, cáp dầu khi làm việc với công suất 190 MW cũng vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Kể cả khi tổ máy sa thải phụ tải áp lực nước va, độ tăng số vòng quay tổ máy vẫn đạt yêu cầu kỹ thuật và khả năng bảo đảm an toàn cho toàn bộ công trình Nhà máy và hệ thống thiết bị. Những nghiên cứu trên đã được chứng minh trong thực tế qua việc vận hành thử tổ máy số 4 lên 190 MW trước sự chứng kiến của các giáo sư, tiến sỹ và các chuyên gia trong lĩnh vực thủy điện của Việt Nam.
 
      Các thông số kỹ thật được ghi nhận như sau: về tuabin thuỷ lực cố độ đảo trục là 0,08mm (tiêu chuẩn cho phép là 0,03mm); độ rung dọc trục là 23 (tiêu chuẩn cho phép là 100), còn nhỏ hơn khi vận hành mức công suất 180MW (29); độ võng giá chữ thập tổ máy không thay đổi so với khi vận hành với công suất 180MW; nhiệt độ xéc măng ổ hướng tuabin là 53 oC (tiêu chuẩn cho phép < 80 oC). Đối với máy phát điện, nhiệt độ thanh dẫn stator là 93 oC (tiêu chuẩn cho phép < 120 oC); nhiệt độ ở lõi thép stator là 81 oC (tiêu chuẩn cho phép < 120 oC); nhiệt độ xéc măng ổ hướng máy phát là 49 oC (tiêu chuẩn cho phép < 75 oC); nhiệt độ xéc măng ổ đỡ tổ máy là 55 oC (tiêu chuẩn cho phép < 80 oC). Đối với máy biến áp 500 KV, nhiệt độ ở cuộn dây 84 oC (tiêu chuẩn cho phép < 115 oC); nhiệt độ dầu làm mát NB 46O C (tiêu chuẩn cho phép < 65 oC). Các thiết bị điều tốc, kích từ, đo lường, điều khiển đều đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật.
 
        Bên cạnh đó, qua nghiên cứ số liệu thủy văn trong 44 năm, kể từ năm 1960 đến năm 2004  cũng cho thấy, tính trung bình hàng năm, lưu lượng nước về hồ chứa lớn hơn lưu lượng nước để phát điện cả 4 tổ máy khi vận hành với công suất mỗi tổ máy là 180 MW là 450 m3/giây kéo dài từ 60 đến 90 ngày tuỳ mỗi năm. Như vậy, nếu không nâng công suất của tổ máy lên 190 MW thì lượng nước dư thừa này phỉa xả đi một cách lãng phí.
 
       Những lợi ích kinh tế khi nâng công suất tổ máy
 
       Khi EVN có quyết định cho phép Nhà máy thuỷ điện Yaly nâng công suất tổ máy thì lợi ích từ việc này có thể nhìn thấy rõ qua những căn cứ đã được tình toán. Nếu theo giá thành trung bình trong toàn bộ hệ thống điện quốc gia là 624,00 đồng/ kWh điện thì đối với năm lượng nước về hồ ở mức thấp nhất, số tiền gia tăng khi công suất 4 tổ máy được nâng lên 190 MW so với 180 MW sẽ là 38,93 tỷ đồng. Tương tụ, đối với năm lượng nước về hồ với mức độ trung bình số tiền gia tăng là 40,73 tỷ đồng. Đối với năm lượng nước về hồ nhiều số tiền gia tăng sẽ là 61,10 tỷ đồng. Về ích lợi kinh tế do tăng công suất phủ định chỉ tính từ giữa tháng 8 của năm trước đến giữa tháng 5 của năm sau cũng sẽ tăng thêm khoảng 60 tỷ đồng. Cũng dễ nhận thấy việc tăng công suất của 4 tổ máy từ 180 MW lên 190 MW thì công suất phủ đỉnh sẽ tăng tương ứng với 40 MW cho hệ thống mà không cần phải chi phí xây dựng nguồn mới với số tiền vào khoảng 500 tỷ đồng.
 
       Nhìn thế cũng đã thấy rằng, khi Nhà máy Thuỷ điện Yaly nâng công suất 4 tổ máy từ 180 lên 190 MW sẽ mang lại lợi đơn, lợi kép trước mắt cũng như lâu dài cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
 
 
(Trích dẫn từ báo Công nghiệp Việt Nam số 56 ngày 24/08/2005.)

  	 Hệ thống giám sát tổ máy Nhà máy Thuỷ điện Ialy